Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2017

Tác hại khôn lường của bột ngọt

Tác hại khôn lường của bột ngọt
(GS. TS. KH Bùi Quốc Châu)
Một lần nọ, một anh bạn nhăn nhó đến tìm tôi khai bệnh:
- Hôm qua, đang đi đường mà làm như tôi bị trúng gió. Người đổ mồ hôi lạnh, nặng đầu, chân tay bủn rủn, tim đập nhanh, về nhà đo huyết áp thì thấy tăng đột ngột.
Tôi hỏi liền là: - Có phải anh ăn sáng là món phở phải không?
- Anh ngạc nhiên gật đầu, còn nói: - Ăn xong tô phở chừng 15 phút thì tôi bị trúng gió như vậy đó.
Tôi cười, lắc đầu: Không phải trúng gió mà anh bị ngộ độc bột ngọt!
Có người bạn thường bị đau lưng, tôi hỏi có phải bạn thường xuyên hay ăn phở? Bạn tôi xác nhận là có. Tôi khuyên hãy bớt ăn phở. Bạn nghe lời tôi, quả nhiên không còn đau lưng nữa. Quả thật có nhiều bệnh liên quan đến thức ăn có bỏ nhiều bột ngọt, không phải chỉ có món phở mà kết tội nó. Vì nó không có tội gì. Chỉ đáng than phiền là các người bán ham lời nhiều hoặc chiều theo khẩu vị của người ăn mà bỏ nhiều bột ngọt nên mới gây ra nhiều bệnh cho người ăn.
Một người khác nữa là gần đây, qua báo chí được biết là số người bị huyết áp cao và tai biến mạch máu não ở Việt Nam đã gia tăng một cách đáng ngạc nhiên, nhất là tại các vùng đô thị, mà không rõ nguyên nhân tại sao. Về phần tôi, sau một thời gian, nghiên cứu, thì cho rằng một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng nói trên chính là bột ngọt.
Bột ngọt là muối mononatri của acid glutamic, còn gọi là sodium glutamate. Khi cho vào thực phẩm, bột ngọt làm tăng các mùi vị tự nhiên đồng thời phục hồi một số đặc tính của thực phẩm đã bị giảm trong quá trình bảo quản. Tuy nhiên, khi chúng ta cảm thấy vị của thức ăn có cho bột ngọt có vẻ ngon hơn, thì chẳng qua là do bột ngọt đã kích thích thần kinh vị giác. Vậy đó chỉ là vị ngon, ngọt giả tạo còn vị ngon ngọt thực chất của thực phẩm thì đã bị phai lạt, mất mát trong quá trình thu hoạch, pha lọc, cất giữ… rồi!
Các nước phương Tây từ lâu đã nêu lên "hội chứng nhà hàng Tàu" (Chinese restaurant syndrome) biểu hiện rõ nhất là chứng nhứt đầu, mà người bạn ăn phở của tôi đã nhiễm phải một cách khá đầy đủ. Ai cũng biết đối với đại đa số các nhà hàng, hiệu ăn, bột ngọt luôn là chất chủ lực để làm cho vị món ăn dọn ra thật hấp dẫn.
Nguy hơn nữa là trường hợp người nấu cho thêm cả muỗng bột ngọt còn nguyên hột vào tô phở cho “đậm đà”! Chắc là người ở phía Bắc thích dùng mì chính hơn người ở phía Nam vì có lần tại Hà Nội, khi tôi từ chối và hỏi lý do về cái muỗng súp bột ngọt cho thêm kia thì được đáp rằng: “Nhiều người thích ăn như thế”!. Cả trong bột nêm (người miền Bắc hay dùng hơn), bột canh… cũng có nhiều bột ngọt.
Kinh nghiệm sinh hoạt bản thân, gia đình và bạn bè cùng với kinh nghiệm chữa bệnh gần 30 năm đã cho tôi phát hiện là bột ngọt thường gây nên những triệu chứng tê mỏi, nhức đầu và làm tăng huyết áp nội trong ngày có ăn nhiều bột ngọt. Chậm lắm là qua ngày hôm sau. Phát hiện nữa là những người ăn phở từ nhỏ, ăn phở thường xuyên là mắc chứng cao huyết áp mà không hề biết nguyên nhân chính là phở. Nghe ai khai bệnh cao huyết áp cỡ 190 - 200, tôi hỏi ngay về sở thích ăn phở thì thường là đúng phóc.
Phở là món ngon quốc hồn quốc tuý, một thời kỳ chính tôi cũng khoái, nhưng nhìn kỹ lại xem, trong nước dùng có gì? Đầu tiên là xương bò (hay trâu), rồi tuỳ theo ý của chủ tiệm mà còn có thêm nhiều thứ ngoài bột ngọt như gừng, đinh hương, hồi hồi, thảo quả, khô mực, vỏ quýt… Một số tiệm còn thêm củ cải đỏ, củ cải trắng nhưng khi hầm quá lâu như thế thì có thể sinh độc. Đáng lưu ý là phần mỡ bò sẽ gây cho người ăn chứng khó tiêu, chứng cholesterol cao trong máu, nhất là đối với ai thích phở gầu, phở tái béo, phở tái mỡ có thêm tuỷ bò! Người đang trị bệnh cao huyết áp với thuốc Tây đã thấy là thuốc cứ uống nhưng huyết áp vẫn không xuống một khi vẫn còn ăn phở mỗi ngày nghĩa là bệnh không thể giảm, lờn thuốc, có khi còn xảy ra tai biến đe doạ tính mạng.
Do tình hình quán, tiệm mở ra còn có vô số món ăn khác như bún bò, hủ tiếu, canh miến, bún riêu, lẩu, mì Quảng… mà nét chung là chứa nhiều bột ngọt do óc hám lợi của người chủ tiệm, gây độc tố cho người ăn. Do đó, những người có thói quen hay hoàn cảnh phải thường ăn hàng quán nhiều, ăn nhậu nhiều thì hay mắc phải đủ thứ bệnh, điển hình là 5 bệnh: gan, bao tử, huyết áp, tim mạch và đường ruột mà chủ yếu là bệnh cao huyết áp do bột ngọt gây ra. Tình trạng ngộ độc, hay dị ứng tức là phản ứng của gan đối với bột ngọt xảy ra còn tuỳ vào tình trạng cơ thể, cơ địa con người. Có người bải hoải, mệt lả, bủn rủn chân tay, có người nhức đầu, đau lưng, đau vai, có người tê môi, có người tim đập mạnh và huyết áp tăng liền… Nói chung là những phản ứng hết sức bất lợi cho sức khỏe.
Bột ngọt có tác hại như thế, không biết ngành y tế có biết hay không mà có điều lạ là hiện nay, nhiều hiệu bột ngọt vẫn cứ được phép quảng cáo rầm trời ở Việt Nam như Ajinomoto, Vedan…?
Có người đi Nhật Bản về cho biết là mặt dù nước Nhật là nước hàng đầu về sản xuất bột ngọt nhưng dân Nhật xài rất ít bột ngọt nghĩa là rất hạn chế. Có lẽ họ sợ, biết tai hại của nó nên ít dùng? Vậy mà tại nước ta không hề có thông báo, văn bản chính thức nào của cơ quan y tế Nhà Nước phân tích về tác hại cũng như hướng dẫn sử dụng bột ngọt. Tôi có liên hệ trung tâm dinh dưỡng thành phố HCM để hỏi tài liệu về bột ngọt nhưng tiếc thay ở đây cũng không có tài liệu về bột ngọt đối với sức khoẻ của nhân dân thật không lường được.
Theo tôi, trước một con số rất lớn gia đình nước người mình (ước tính có thể đến 70 – 80%) dùng bột ngọt hằng ngày, các cơ quan y tế Nhà Nước cần có ngay những thông báo rộng rãi qua báo đài, qua mạng lưới thầy thuốc chữa bệnh Đông Tây y cho đại chúng, cho bệnh nhân được rõ tai hại của bột ngọt (giống như thông báo về tai hại của thuốc lá). Phải quan tâm nhất là thành phần bà con lao động nghèo, đã vì không đủ khả năng mua thịt nhiều, cá làm thức ăn hằng ngày nên cứ cho nhiều bột ngọt vào cho dễ ăn qua bữa, nên càng chịu độc của bột ngọt nhiều hơn ai hết. Tôi thấy có hiện tượng tỉ lệ thuận giữa bệnh tật của dân chúng hiện nay với tình trạng ăn uống ở hàng quán. Do đó một mặt chúng ta nên từ chối hay miễn cưỡng lắm là hạn chế tối đa bột ngọt, chịu kém ngon một chút mà giữ được sức khoẻ, mặt khác phải củng cố bếp ăn bằng cách:
 Bảo quản thực phẩm tươi sống thật tốt để giữ được khá đầy đủ hương vị tự nhiên. Thực phẩm càng tươi càng còn nhiều acid glutamid tức mùi vị đặc trưng càng rõ.
 Phân bố thực phẩm tươi sít sao, nấu nướng nhanh gọn cho từng bữa ăn, tránh tình trạng thức ăn bị cất giữ quá lâu mà biến chất, mất tươi ngon.
 Thay thế bột ngọt bằng những thứ khác không hại mà vẫn tạo vị ngọt như củ cải trắng, củ cải đỏ, các loại xương, mướp, su su…
Ăn thua là khéo chế biến cho ngon thôi cứ dứt khoát phải xa lìa bột ngọt dù chưa bịnh hay bịnh vì nó. Và phải bắt đầu từ bếp ăn gia đình vì ăn uống ngoài đường không phải là chuyện thường xuyên của tất cả chúng ta và ai cũng có thể hạn chế chuyện này. Ăn cơm nhà mới là sinh hoạt căn bản hằng ngày của đại đa số. Cho nên nguy cơ bột ngọt phải trừ khử ngay tại gia đình. Mà ông bà mình từ xa xưa cũng đâu có bột ngọt, không dùng bột ngọt từ ở nhà dân dã cho đến chốn cung đình, nhiều món ăn Việt Nam vẫn được chế biến tuyệt vời, nổi tiếng trong ngành ẩm thực quốc tế! Tôi biết có nhiều người nói rằng mỗi ngày chỉ nêm có một chút, chỉ ăn có một chút bột ngọt thì có gì đâu mà ầm ĩ? Các bạn ấy đã quên rằng mỗi ngày một chút nhưng nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm trôi qua thì ít cũng thành nhiều, bột ngọt tích luỹ trong cơ thể và hiển nhiên tác hại thầm lặng. Tương tự như thế, chất hàn the (borax) có công dụng làm cho thực phẩm dòn, dai nên được cho vào trong vô số món ăn ngoài đường như gỏi, củ kiệu, chả lụa, hủ tiếu mì...cũng độc hại về lâu dài. Rồi cặp “sát thủ” bột ngọt – hàn the cũng đâu tha cho kẻ tu hành ăn chay. Sống thanh tịnh, ăn giản dị thì đáng lý sức khoẻ của những đệ tử Phật môn phải tốt, phải rất ít bệnh tật, đàng này thì gần như đây, số hoà thượng, sa di, ni sư, ni cô đến khám, chữa bệnh tại trung tâm của chúng tôi lại ngày càng nhiều hơn, chủ yếu cũng là các bệnh về huyết áp, gan, bao tử. Tìm hiểu, suy nghĩ mãi tôi mới ngộ ra là nguyên nhân chính cho bệnh của các Thầy không gì khác hơn là những món ăn chay chế biến, đóng gói sẵn của Đài Loan đã được ồ ạt nhập về trong mấy năm gần đây. Và bột ngọt không hề vắng mặt trong những gói tôm chay, bò viên chay, với nguyên liệu rau, củ, tàu hủ ki, bột mì… chay lạt như thế, khó mà tránh được chuyện dùng bột ngọt để tạo vị ngon ngọt. Do đó, vì bột ngọt mà người ăn chay đã bị bệnh không kém gì người ăn mặn. Trong tình hình như đã nói là chưa có một tiếng nói chính thức nào của chính quyền hay ngành chức năng về tác hại của bột ngọt đối với sức khoẻ nhân dân, bài viết này của tôi có tính cách là một thông báo, cũng là lời cảnh báo về bột ngọt. Mọi người dân đều có quyền được cung cấp thông tin cần thiết cho sức khoẻ cùng sinh mạng của mình để khỏi rơi vào tình trạng thiếu hiểu biết hay hệ trọng hơn là sinh mạng bị đe doạ bởi thiếu hiểu biết. Do đó, với trách nhiệm và lương tâm của người thầy thuốc, thấy cái gì rõ ràng là hại cho sức khoẻ của bà con cũng như của bệnh nhân thì phải lên tiếng. Tôi mong mỏi được mọi người quan tâm và có ý kiến đóng góp, xây dựng để cùng chọn ra cách tốt nhất để giải quyết vấn đề này.
----------
Bột Ngọt Gây Teo Não và Nhiều Bệnh Có Hại
Theo giới quan sát, ở Việt Nam, năm 1996 là mốc phát triển mới của công nghiệp bột ngọt Việt Nam. Tại Hoa Kỳ, sự giàu mạnh của công nghiệp bột ngọt trước đây đã từng ngăn chặn sự phát hiện ra các tác hại của nó đối với sức khỏe con người.
Theo nghiên cứu, nếu ăn nhiều bột ngọt thì trẻ em sẽ bị teo não, lú lẫn!
Một nghiên cứu của tiến sĩ tâm thần học Viện Ðại Học California Arthur D. Colman cho thấy, có khoảng 30% dân chúng bị những phản ứng nguy hại, khi ăn phải bột ngọt.
Bột ngọt, thực chất là một hóa chất với tên gọi Monosodium Glutamat "MSG". Ðó là chất muối của acid glutamic, được sử dụng như tác nhân gây vị cho những thức ăn kém vị ngọt. Tuy không phải là một acid amin thiết yếu, nhưng glutamate là một chất quan trọng kích thích hệ thần kinh. Chính vì vậy, đã có một thời, người ta cho bột ngọt là bổ não, có thể chữa được bệnh nhức đầu! Nhưng không phải vậy.
Thực tế, nếu dùng bột ngọt nhiều quá, thì chính glutamate ngoại sinh "dư thừa" này sẽ gây rối loạn hoạt động não, dẫn đến suy thoái não. Chưa kể gan và thận do phải làm việc cật lực để thải hồi độc chất acid amin này, dẫn đến bị suy yếu và gây nhiều rối loạn. Tổ Chức Y Tế Thế Giới "WHO" và Tổ Chức Lương Nông "FAO" của Liên Hiệp Quốc đã nhiều lần khuyến cáo không cho trẻ em dưới 6 tuổi dùng bột ngọt và các thức ăn chế biến có bột ngọt. Ðối với người lớn, tránh dùng chừng nào tốt chừng ấy. Cấm dùng cho phụ nữ có thai. Ngoài ra, một số tác hại khác của bột ngọt: mập phì, trầm cảm, đái đường ở người có nguy cơ cao, và nhiều loại bệnh tim mạch khác...
Sự hạn chế sản xuất bột ngọt xảy ra khá muộn màng: Năm 1970, Cơ Quan Kiểm Soát Thực Phẩm Hoa Kỳ "FDA" và nhiều quốc gia khác như Pháp, Anh đã chính thức cấm sử dụng bột ngọt cho trẻ em. Tại Pháp hoàn toàn không thể tìm thấy bột ngọt ở bất cứ cửa hàng và siêu thị nào "ngoại trừ tiệm ăn Tàu". Không thấy có quảng cáo bột ngọt trên các phương tiện truyền thông.
Nhưng ở Việt Nam, bột ngọt lại đang 'bành trướng'. Từ sản xuất và mức tiêu thụ 8,000 tấn năm 1980, đến năm 1994 đã tăng lên gấp 10 lần. Đến năm 2005 đã tăng lên khoảng 100,000 tấn. Hiện cả nước có 5 cở sở sản xuất bột ngọt có vốn đầu tư nước ngoài với tổng cộng công suất hơn 200,000 tấn/năm. Chưa kể hàng trăm tấn bột ngọt khác đã và đang được Bộ Thương Mại Việt Nam cấp quota nhập và được chuyển lậu từ biên giới vào Việt Nam.
Ðã có ý kiến báo động: “Việt Nam đang trở thành 'bãi thải' bột ngọt” của thế giới. (theo tài liệu nghiên cứu của tiến sĩ Phạm Văn Tất). Từ cuối năm 2000, chính phủ Việt Nam đã có thông báo 'không khuyến khích đầu tư sản xuất bột ngọt'. Nhưng, sản xuất vẫn đang vượt cầu. Chưa ai nghĩ đến chuyện hạn chế quảng cáo bột ngọt. Chính những chiến dịch quảng cáo rầm rộ, phân phối bột ngọt đã và đang làm dân chúng ngộ nhận bột ngọt như là một món phụ gia cần thiết, trị cả bệnh nhức đầu và đau răng!
Tiến sĩ Arthur D. Cilman, giáo sư lâm sàng khoa tâm thần Viện Ðại Học California tâm sự: 'Tôi đã viết một bài về tác hại của bột ngọt. Ngay lập tức, Hiệp hội bột ngọt đã chi hàng triệu dollars mở chiến dịch báo chí chống lại tôi. Họ đe dọa cắt quảng cáo trên các báo định đăng tiếp bài của tôi! Họ thuê một đồng nghiệp của tôi ở đại học Harvard đến gặp tôi, ngỏ ý tài trợ để tôi làm một chương trình nghiên cứu khác, đừng tấn công bột ngọt".
Tây phương thường nói đến 'Hội chứng nhà hàng Tàu' (Chinese restaurant syndrome) với các triệu chứng điển hình khi ăn phải các thức ăn có nhiều bột ngọt: nhức đầu, đỏ mặt, đau ngực, sốt và rối loạn tuần hoàn. Người ta cũng ghi nhận ở một số người thường xuyên bị rối loạn như: suyễn, cảm, đau thắt ngực, tê mặt... là do không dung nạp bột ngọt. Vì vậy, càng ít dùng bột ngọt càng tốt. Ðặc biệt là cần tránh tối đa cho trẻ em dưới 6 tuổi không dùng bột ngọt. Cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho chính mình và gia đình mình là tuyệt đối không dùng bột ngọt trong thực phẩm hàng ngày.
Sưu tầm trên fb

Hàng triệu người Việt Nam bị máy khử trùng ozone lừa ngoạn mục?

Hàng triệu người Việt Nam bị máy khử trùng ozone lừa ngoạn mục?

PGS Phạm Duy Hiển cho biết, khí ozone trước hết là khí cực độc, có thể làm chết động vật thí nghiệm và ngay cả con người với liều nhất định. Với liều hoặc nồng độ nào đó ozone rất độc hại cho nhu mô phổi và đường hô hấp nói chung.




Teo niêm mạc mũi vì máy ozone


Là tín đồ của các loại thực phẩm sạch thôi chưa đủ, gia đình bà Trần Thị Nhài trú tại Hai Bà Trưng, Hà Nội còn sắm thêm máy sục rau, củ quả, thịt ozone để loại bỏ chất độc hại ra khỏi thực phẩm.
Bà Nhài tin rằng nhờ có máy này các loại chất bẩn đều được tống ra ngoài hết. Nhìn miếng thịt sau khi sục qua máy sục ozone bà Nhài rất sợ bởi vì các loại váng đóng cặn nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Bà Nhài lo lắng nếu những thứ này mà đi vào cơ thể không biết sẽ độc hại ra sao.
Cũng giống như bà Nhài, biết bao bà nội trợ đã tin tưởng và mua dùng máy ozone với hi vọng tốt cho sức khoẻ gia đình.
Gia đình bà Nguyễn Thị Hoà trú tại Vương Thừa Vũ, Hà Nội là điển hình. Bà Hoà kể, từ năm 2006, khi có dịch tiêu chảy xuất hiện, quá hoảng sợ với thực phẩm bẩn, bà đã mua chiếc máy khử trùng ozone. 10 năm nay chiếc máy này trở thành vật bất ly thân trong gian bếp của nhà bà. 
Bà Hoà không nghĩ rằng căn bệnh viêm teo niêm mạc mũi của vợ chồng mình là do máy khử trùng ozone gây ra. Đến khi đi khám về điều trị mãi không khỏi, chồng bà mới lên các trang web nước ngoài đọc, vô tình biết được ozone có thể gây teo niêm mạc mũi, lúc này bà mới tá hoả. Thì ra 10 năm qua bà sống chung với vật ảnh hưởng tới sức khoẻ của gia đình mình mà bà không biết.
                                               Viêm mũi họng mãn tính do ngộ độc khí ozone

Không có ngưỡng nào an toàn

PGS Phạm Duy Hiển – Nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện K trung ương, cho biết, máy khử trùng ozone thực sự không có tác dụng nào trong việc làm sạch thực phẩm bẩn. PGS Hiển cho biết bản thân ông cũng là nạn nhân của máy khử trùng ozone. 
Viêm mũi họng mãn tính do ngộ độc khí ozone
Thật tình cờ, khi PGS Hiển sử dụng từ khoá "sử dụng máy sục ozone cho thực phẩm bẩn trong gia đình" thì không có một quốc gia nào trên thế giới sử dụng máy tạo ozone dùng cho hộ gia đình tẩy thực phẩm bẩn.
Máy ozone chỉ dùng trong công nghiệp, bảo quản thực phẩm sạch sau thu hoạch hoặc giết mổ; diệt vi trùng nguồn nước uống của thành phố thay Clo; vệ sinh chai lọ ở các nhà máy bia, nước giải khát... 
Nhưng hiện nay, máy này cũng không được sử dụng rộng rãi vì tác dụng độc hại cho công nhân và đặc biệt gây ô nhiễm môi trường không khí! Nơi sản xuất máy "sục ozone" cho gia đình chỉ thấy ở Việt Nam, Trung Quốc và một số máy không rõ nước nào sản xuất chỉ ghi ký hiệu công ty...
PGS Hiển cho biết, khí ozone trước hết là khí cực độc, có thể làm chết động vật thí nghiệm và ngay cả con người với liều nhất định. Với liều hoặc nồng độ nào đó ozone rất độc hại cho nhu mô phổi và đường hô hấp nói chung.
Tuy ozone có thể tiêu diệt vi khuẩn ở bề mặt thực phẩm, nhưng khi các chất độc như kháng sinh, chất diệt cỏ trừ sâu... đã ngấm sâu vào thực phẩm thì vai trò của ozone lại không cao.
Thậm chí, ngay cả khi tiếp xúc trực tiếp máy "sục ozone" cũng không loại bỏ được hết các độc tố, vì có hàng trăm chất độc, hàng trăm hóa chất, trong khi chỉ mình ozone sẽ không thể "phá hủy" được tất cả. 
Đáng lưu ý, muốn tạo ozone phải sử dụng thiết bị tạo oxy sạch và sấy khô, thiết bị này rất đắt, nếu lắp vào máy "sục ozone" thì khó có thể bán được vì giá thành quá cao. Trường hợp lấy không khí thường là hoàn toàn không sạch, bởi không khí chứa đến hơn 70% khí nitơ (N2) và lại không sấy khô. Qua máy "sục ozone" khí nitơ này sẽ thành oxit nitơ và ozone. Lượng ozone không lớn (thường chỉ chiếm 19%) còn khí oxit nitơ lại chiếm tỷ lệ cao hơn.
Oxit nitơ lại cực kỳ độc hại đối với người sử dụng, đặc biệt là khi ăn kèm thực phẩm chứa chất này với mắm tôm hay sản phẩm lên men tạo nên sự phân hủy oxit nitơ. Khí này bám vào vòm họng và được xem là một trong những nguy cơ gây nên ung thư vòm họng. 
Nếu thường xuyên hít phải khí này sẽ mắc bệnh về tai, mũi, họng: viêm mũi, hen phế quản mãn tính, viêm kết giác mạc, viêm phổi mãn tính như khi hít phải khí ozone vậy. 
"Ngoài ra, với nồng độ ozone không nguy hại cho con người (0,1ppm/8 giờ) lại không giết được vi trùng, các nhà sản xuất đua nhau nâng công xuất máy "sục" lên đến 20, 30 thậm trí 40ppm...Trong buồng bếp rộng 15-20 m2 các bà nội trợ lắp máy "sục ozone" công xuất cao để diệt "con vi trùng" tốt hơn, nhanh hơn... thì "con người" sẽ ra sao?" – PGS Hiển đặt câu hỏi.
Nói về việc máy "sục ozone" được sử dụng tràn lan như hiện nay, PGS Hiển cho biết các nhà sản xuất đang lợi dụng kẽ hở về chuẩn ozone chưa được công bố và chưa có cơ quan chức năng nào kiểm định, cho phép nên vô tình tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc sản xuất, nhập khẩu và lưu hành không kiểm soát. 

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Kiến thức về tỏi

Tỏi ta - tên khoa học là Alliumsativum L, họ hành Alliaceac (trước kia gọi là họ hành tỏi Liliaceae).
Cùng với tên tỏi có rất nhiều loại tỏi khác nhau như tỏi voi, tỏi Trung Quốc, tỏi Pháp, tỏi gấu, tỏi ngọc v.v. Nhưng chỉ có củ tỏi ta là được ưa chuộng dùng làm gia vị và làm thuốc, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Vì tỏi ta củ nhỏ, thơm và có nhiều công dụng quý.
Tiếng Anh gọi tỏi ta là Garlic để phân biệt với các loại tỏi khác gọi là Leek.
Loài người biết dùng củ tỏi làm gia vị và làm thuốc từ thời kỳ đồ đá Y học dân gian cổ truyền của các dân tộc cũng có nhiều kinh nghiệm dùng tỏi chữa bệnh. Các nhà khoa học cũng có hàng ngàn công trình nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh và các chế phẩm làm thuốc từ củ tỏi ta (hiện nay vẫn tiếp tục nghiên cứu).
Cách chế tỏi tươi làm thuốc trong gia đình
Tiêu chuẩn củ tỏi: Tươi, không mọc mầm lá hoặc mọc rễ, không bị dập nát, héo.
Các bệnh có thể dùng tỏi tươi giã nát để ăn: Các loại ung thư. Các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, tăng lipid máu, vỡ xơ động mạch, huyết khối).
Bệnh tiểu đường type II - Giải độc nicotin mạn tính chống nhiễm độc phóng xạ. Giải độc kim loại nặng. Phong thấp và đau dây thần kinh... là những bệnh phải dùng thuốc thường xuyên và lâu dài.
·        Cách làm: Chọn tỏi tươi đúng tiêu chuẩn như trên, bóc sạch vỏ khô (mỗi lần dùng cho một người khoảng 3g - 5g tương ứng với một tép tỏi vừa hoặc 2 tép tỏi nhỏ). Giã nát để ngoài không khí trong 15 - 30 phút (có thể cho nước mắm pha loãng để chấm rau hoặc đậu phụ) dùng trong bữa ăn. Ngày ăn 3 lần như vậy.
Những điều cần lưu ý khi dùng tỏi tươi và chế phẩm tỏi
·        Không ăn cả tép tỏi nguyên - Nuốt cả tép tỏi thì rất nguy hiểm.
·        Không ăn tỏi lúc bụng đói (sẽ kích thích niêm mạc dạ dày, ợ nóng có thể viêm thực quản).
·        Không ăn quá nhiều tỏi thường xuyên (tối đa không quá 15g/ngày).
·        Không dùng tỏi và chế phẩm có chứa tỏi đồng thời với Warfarin (thuốc chống đông máu) trước khi mổ.
·        Không đắp tỏi lên da lâu quá 10 phút (có thể bị bỏng rát).
·        Những người bị dị ứng với tỏi không được đắp tỏi lên da để chữa bệnh.
·        Khi dùng tỏi để trị giun kim (uống và thụt hậu môn dịch tỏi) không được dùng quá liều có thể bị viêm ruột hoặc tiêu chảy.
·        Muốn làm hết mùi tỏi có thể dùng nước chè (chè tươi hoặc chè búp xanh) đặc, súc miệng hoặc rửa tay rửa da chỗ đắp tỏi.
Hoạt chất trong củ tỏi
Trong tép tỏi tươi, các hợp chất sulfur là quan trọng nhất, có tỷ lệ cao nhất trong các loại rau quả (3,2%) khi tép tỏi còn nguyên: alliin (một hợp chất sulfur) và men allinase có lượng tương đương nhau. Mỗi thứ ở trong một ngăn riêng biệt. Khi giã nát củ tỏi - Một phản ứng cực mạnh, tức thì giữa alliin và allinase sản sinh ra allicin - Allicin là một chất không bền, khi tiếp xúc với không khí sẽ được chuyển hóa thành diallyl disulfide, vinydithiin, ajoene, là những chất có tác dụng dược lý đã kể trên -(allicin là chất gây mùi tỏi tươi khi băm thái).
Bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp người ta đã xác định được hàm lượng allicin trong tép tỏi tươi sau khi giã nát một phút đã đạt 63%. Nhưng sau 30 phút tiếp xúc với không khí chỉ còn 39% (vì đã chuyển hóa thành các chất nói trên). Trong môi trường hơi kiềm (pH = 8) phản ứng triệt để nhất. Trong môi trường hơi acid (pH = 5) phản ứng chậm 50 lần.
Tỏi tươi nguyên tép và tỏi đã làm chín không có mùi và không có tác dụng dược lý nêu trên.
Đông Y việt Nam ta ghi nhận công dụng trị bệnh của tỏi như sau: tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc nằm trong hai kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa bệnh lỵ ra máu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đàm, chữa đầy chướng bụng, đại tiểu tiện khó khăn. Người âm nhu, nội thiệt, có thai, đậu chẩn, đau mắt không nên dùng.
Kết quả nghiên cứu công dụng tỏi với bệnh tật
Qua nhiều nghiên cứu khoa học và qua kinh nghiệm xử dụng của dân chúng, thì tỏi không những là một thực phẩm ngon mà còn có nhiều công dụng hỗ trợ việc trị bệnh

Các Chất Dinh Dưỡng Trong Tỏi
1,00 oz (18,00 g)

Chất Dinh Dưỡng
%Giá Trị Dinh Dưỡng Hàng Ngày

mangan
15%
vitamin B6
11%
vitamin C
9,3%
Selen (selenium)
3,6%
Canxi (calcium)
3,2%
tryptophan
3,1%
Photpho (phosphorus)
2,7%
vitamin B1
2,6%
Đồng (copper)
2,5%
Calories (26)
1%


Biểu đồ này mô tả chi tiết giá trị dinh dưỡng mỗi ngày, trong đó một khẩu phần tỏi cung cấp các chất dinh dưỡng mà theo đó được đánh giá là tốt, rất tốt, và lý tưởng theo Hệ Thống Đánh Giá Thực Phẩm của chúng tôi. 
An Tâm Foods siêu tầm.

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

Những sự thật mà các bạn trẻ cần phải biết trong cuộc đời.

- Trên đời không bao giờ có cái gì là tuyệt đối, phương Đông gọi là thuyết âm dương, phương Tây gọi là thuyết tương đối. Đây là triết lý cơ bản, thuyết cơ bản, nền tảng của mọi triết lý và lý thuyết của xã hội loài người.

1. Có thể tiền không phải là có tất cả, nhưng không tiền thì chắc chắn là không có gì.

2. Ai cũng có thể cảm thông với khó khăn, nghịch cảnh mà bạn gặp phải, nhưng sẽ không ai giải quyết giúp bạn cả, vì ai cũng bận giải quyết vấn đề của mình.

3. Đời không như là mơ. Hãy sẵn sàng để đương đầu với những thử thách ở phía trước.

4. Đừng dựa dẫm vào bất kỳ ai trên đời này bởi vì ngay cả cái bóng của bạn cũng rời bỏ bạn những lúc tối tăm. Hãy tin tưởng vào chính mình, đừng quá dựa dẫm vào người khác

5. Sẽ đến lúc bạn gặp thất bại. Nhưng hãy nhớ rằng không ai thành công mà chưa từng thất bại. Điều quan trọng là bạn có đủ dũng khí để đứng dậy?

6. Cơ hội giống như bình minh. Nếu bạn chờ đợi quá lâu, bạn có thể bỏ lỡ nó.

7. "Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn, điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, trước khi có được thành tựu thì bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của bản thân mình lên" - Bill Gates.

8. “Nếu bạn không xây dựng ước mơ của mình, người khác sẽ thuê bạn xây dựng ước mơ của họ”, Tony Gaskins Jr

9. Có một số người bạn không nên gặp thì sẽ tốt hơn.

10. Ngoại hình và gia cảnh mãi là một khuôn khổ mà xã hội mang ra để nhận xét một con người.

11. Đường lâu ngày không đi sẽ mọc đầy cỏ dại. Người lâu ngày không gặp sẽ trở thành người dưng.

12. Chỉ mất hai năm để học nói, nhưng phải mất cả đời để học những gì không nên nói.

13. Người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về - gia đình.

14. Bạn sẽ chẳng bao giờ nhận ra những thứ mình đang có quan trọng như thế nào cho đến khi bạn đánh mất nó.

15. Người bạn yêu chưa chắc đã yêu bạn. Hãy biết buông bỏ đúng lúc để tránh bị tổn thương.

16. Bạn có thể mua được một chiếc đồng hồ, nhưng bạn không thể mua được thời gian. Bởi vậy, hãy tận dụng, trân trọng từng giây phút bạn có.

17. Niềm tin giống như một tờ giấy, một khi đã nhàu nát sẽ không bao giờ phẳng phiu được nữa.

18. Lòng chung thủy của người phụ nữ được thử thách khi người đàn ông của họ không có gì trong tay. Lòng chung thủy của người đàn ông lại được thử thách khi anh ta đang có trong tay tất cả mọi thứ.

19. Tha thứ thì dễ dàng nhưng tin tưởng một lần nữa thì không dễ dàng như vậy.

20. Ai rồi cũng sẽ phải chết. Bởi vậy hãy sống sao cho bản thân không phải hối tiếc bạn nhé.

Kết luận:
- Đừng bao giờ nhìn đời chỉ toàn là màu hồng để khỏi phải thất vọng hay sốc khi gặp phải những khó khăn, trắc trở của cuộc đời vì chắc chắn ai cũng phải gặp. Chúng ta cần can đảm đối mặt và tìm mọi cách, dùng mọi nguồn lực để giải quyết các khó khăn, trắc trở đó. Khi vượt qua được bạn sẽ càng trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn.

An Tâm foods tổng hợp.

Triết lý về hoàn thiện nhân cách.

1. Hãy dành thời gian cho những người và việc đáng tin cậy, đáng trân trọng. Vì thời không bao giờ quay lại và luôn có giới hạn.

2 Hãy xem xét lại những mối quan hệ xung quanh bạn và chọn lấy những người bạn thực sự. 

3. Khéo léo giao tiếp với mọi kiểu người trong xã hội, tiếp thu ý kiến một cách chọn lọc.

4. Quan tâm đến những người quan trọng trong cuộc sống, đừng hao tổn tâm trí vào những việc vô bổ. 

5. Tránh xa những kẻ thọc gậy bánh xe, làm trò tiểu nhân, phá vỡ đoàn kết, luôn xăm xoi những điểm không tốt của người khác.

6. Cố gắng đến mức tối đa không tham gia các bữa rượu vô bổ chỉ dùng để bốc phét và nịnh hót.

7. Đối tốt và chân thành với mọi người, học cách chịu thiệt thòi. Tuy nhiên cũng đừng hứa giúp đỡ, cũng như đừng nhờ vả những kẻ ích kỉ, vô vị; nếu không sẽ phải chịu thiệt thòi. 

8. Có những việc không cần gấp gáp quá thì cứ để từ từ, không cần phải vội vã, sự việc từ từ giải quyết ắt sẽ tốt đẹp.

9. Dù gặp phải việc gì cũng phải tự tìm cách giải quyết, biết cách lấy cái lớn bỏ cái nhỏ, việc có thể tự hoàn thành được thì quyết không cầu sự giúp đỡ.

10. Tránh bị người khác lợi dụng, đối với những kẻ đó nên “không mời cũng không tiễn” , học cách từ chối, giảm bớt phiền phức.

11. Đừng bao giờ nghĩ mình giỏi hơn người khác, cho dù bạn có rất xuất sắc cũng nên học tập và công nhận những điểm mạnh của người khác.

12. Giảm bớt thời gian ở nhà, ở phòng, đặt kế hoạch đi du lịch, tiếp xúc và hòa mình với tự nhiên.

13. Thường xuyên tự hỏi bản thân: “Ai có ơn với mình mà vẫn chưa báo đáp?”, người ta tốt với mình một, mình phải báo đáp họ gấp trăm lần.

14. Hạn chế đến mức tối đa tiếp xúc với những người có tinh cách trái ngược với bản thân, những người nóng nảy hoặc buồn vui thất thường, suy nghĩ tiêu cực.

15. Luôn mỉm cười để tâm lý luôn lạc quan thì mọi việc sẽ nhẹ nhàng hơn

16. Luôn bảo vệ sức khỏe, một cơ thể khỏe mạnh mới có thể có một tâm trạng vui vẻ và suy nghĩ tích cực.

17. Suy nghĩ nghiêm túc về những thứ mà mình thật sự muốn, những người thật sự muốn gần gũi, nhất thời nghĩ không ra thì hãy tiếp tục suy nghĩ đến khi tìm ra đáp án.

18. Luôn duy trì một tâm trạng vui vẻ, cuộc sống nhiều màu sắc, tính cách lạc quan,cởi mở.

19. Phải biết buông bỏ khi điều đó giúp cuộc sống bạn tốt hơn.

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Kiến thức về gạo lứt

Như thế nào mới là Gạo lứt? 

Chúng ta thường nhầm tưởng chỉ gạo màu mới là gạo lứt, nhưng không phải vậy. Tất cả các loại lúa khi xay xát chỉ bỏ vỏ trấu (không bỏ vỏ cám + lau bóng) được gọi là gạo lứt. Gạo lứt cũng rất đa dạng và phong phú nhưng thường phân loại theo màu sắc của lớp cám: xám trắng, đỏ, tím than, đen.


Gạo lứt là thực phẩm nguyên hạt có nhiều chất dinh dưỡng và 80% chất dinh dưỡng nằm trong phần vỏ cám, vậy nên gạo lứt có cực kỳ nhiều tác dụng nhất là gạo lứt đen hoặc tím than.

Một số chất dinh dưỡng cụ thể là các vitamin và nguyên tố vi lượng. Theo Wikipedia thì giá trị dinh dưỡng của gạo lứt hạt dài là như sau (100g):Năng lượng- 370kcal; Nước- 10,37g; Hydratcarbon (đường bột)- 77,24g; Chất xơ thực phẩm- 3,5g; Chất béo -2,92g; Protein- 7,94g; Vitamin B1- 0,401 mg; Vitamin B2-0,093mg; Vitamin B3 (Niacin)- 5,091 mg; Vitamin B5 (Acid pantotenic)- 1,493 mg; Vitamin B6- 0,509mg; Vitamin B9 (Acid folic)- 20µg, Ca- 23 mg; Fe-1,47 mg; Mg- 143mg; Mn- 3,743 mg ; P- 333 mg; K - 223 mg; Na- 7 mg; Zn- 2,02 mg ... Các chuyên gia dinh dưỡng cũng nhận thấy, một lon gạo lứt khi nấu thành cơm chứa 84 mg Mg, trong khi đó ở gạo trắng chỉ có 19 mg. Lớp cám của gạo lứt cũng chứa một chất dầu đặc biệt có tác dụng điều hòa huyết áp, làm giảm cholesterol xấu, giúp ngăn ngừa qua các bệnh tim mạch.

Trong lớp vỏ và phôi của gạo lứt cũng chứa những chất trợ giúp cho hệ thống miễn dịch. Polysaccharides có tác dụng cải thiện chức năng miễn dịch. Gamma Oryzanol và các hợp chất dinh dưỡng tự nhiên khác nó làm tăng khả năng miễn dịch và làm giảm, chống lại quá trình viêm nhiễm. Chất Sterolin và phytosterol được chứng minh có hiệu quả mạnh chống virus và vi khuẩn.

Gạo lứt khi nấu thành cơm thì không nở như gạo trắng, ăn hơi ráp nhưng nếu ăn quen sẽ thấy hương vị ngon ngọt đặc biệt. Càng ngày người ta càng nhận thấy rằng gạo lứt (lức) có giá trị dinh dưỡng và phòng chống bệnh tật rất độc đáo. Cụ thể, gạo lứt đã được chứng minh là có thể điều hòa huyết áp, làm giảm các cholesterol xấu và ngăn ngừa các bệnh tim mạch. Cholesterol xấu mới chính là nguyên nhân gây ra các bệnh lý tim mạch còn ngược lại cholesterol tốt thì giúp loại trừ cholestrol xấu.

Gạo lứt đỏ, tím than có 4 tác dụng khá rõ rệt với con người: Hỗ trợ bệnh tim mạch; Hỗ trợ, làm giảm nguy cơ tiểu đường; Cải thiện chức năng tiêu hóa và Hỗ trợ giảm cân. Theo các nghiên cứu mới đây, gạo lứt có những tinh chất, hỗ trợ cho sức khỏe người dùng, ngăn cản sự phát triển của gốc tự do. Thức ăn tinh chất gạo lứt là một nguồn tuyệt vời của những hợp chất tự nhiên, với những thuộc tính kháng Oxy hóa như β-sitosterol. Rất nhiều loại acid như pherolic, ferulic , lipoic ,phytic, và các chất khác như phytosterol, ɣ-oryzanol , tocopherol, tocotrienol, Omega 3,6,9, CoQ10, polysaccharid, glucan, henucellulose ... có trong gạo lứt đều là những chất quét thải các gốc tự do, chống gây hại các tế bào bởi các gốc tự do, chống gây đột biến gen.. Trong lớp vỏ cám của gạo lứt còn có một loại dầu cám gạo, chứa chất dầu tocotrienol fator (TRF) có tác dụng loại bỏ những yếu tố gây huyết khối trong mạch máu, giúp chống đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Ngoài ra, trong dầu cám còn chứa vitamin E có tác dụng chống lão hóa. Trong tinh chất gạo lứt chứa nhiều chất xơ ăn được và những hydrat carbon không tiêu hóa được nhưng có khả năng lên men, không tiêu hóa trong ruột non và đi vào ruột già. Nó sẽ được các vi sinh vật có lợi trong ruột lên men tạo thành các acid béo mạch ngắn đặc biệt là butyrat là những nguồn năng lượng tối thích cho vi sinh vật có lợi phát triển, nhờ đó hạn chế các bệnh mãn tính đường ruột. Đồng thời nó cũng được tạo ra các prebiotic là những thành phần các chất đã lên men cho phép những thay đổi đặc biệt cả về thành phần và hoạt lực của các vi sinh vật ở đường ruột, có lợi cho sức khỏe tiêu hóa. Các prebiotic này có tác dụng tăng cường miễn dịch.Tất cả các vi chất dinh dưỡng như Folat, vitamin B6, Polyphenol các chất kháng oxy hóa, và các modul miễn dich làm việc đồng hoạt làm giảm đi một số bệnh xâm nhập vào đường ruột. Gạo lứt còn cung cấp 27,3% luợng giá trị dinh dưỡng hàng ngày đối với selen. Đây là một lợi ích quan trọng vì hầu hết người dân không có đủ lượng selen cần phải có trong thực đơn hàng ngày của họ, mà selen lại là một vi khoáng quan trọng thiết yếu cho sức khoẻ con người. Selen là thành phần thiết yếu của một vài con đường trao đổi chất trong cơ thể, bao gồm sự trao đổi chất hormone tuyến giáp, hệ thống phòng chống sự oxi hoá và hệ miễn dịch.

 Các nhà khoa học đã theo dõi 75.000 phụ nữ trong 10 năm và nhận thấy nếu ăn 2 bát cơm rưỡi nấu bằng gạo lứt mỗi ngày thì sẽ giảm được 30% nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ cho rằng, nếu như những người phụ nữ đó không mắc bệnh béo phì, không hút thuốc lá thì chắc chắn kết quả sẽ còn cao hơn hơn nữa. Trong một nghiên cứu khác, các nhà khoa học Mỹ cũng cho thấy nếu ăn mỗi ngày 85g cám trong 6 tuần lễ cũng sẽ giảm được 45% cholesterol - nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Tạp chí Nature Medicine tháng 1/ 2001 đưa tin: Những người ăn ngũ cốc thô cũng giảm được 40% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Một công trình nghiên cứu khác cho thấy ở 75.521 đối tượng tình nguyện ăn ngũ cốc thô đã giảm được tỷ lệ tai biến do các bệnh tim mạch 30 - 40% so với những người ăn ngũ cốc đã xay xát kỹ.

Một số người đã dùng gạo lứt rang làm trà uống trong vòng 6 tháng đã thấy rất nhiều kết quả như sau: Sức khỏe tăng thêm, làm việc nhiều không thấy mệt. Bớt béo, bớt cholesterol, tiểu đường. Chữa được táo bón, bớt bị đau bụng, chữa bệnh hôi miệng. Chữa được bệnh phong thấp, bệnh ra mồ hôi, đau lưng nhức mỏi. Da dẻ tươi sáng, không cần dùng kem dưỡng da.

Hiện nay trên thị trường có bán sẵn các loại trà gạo lứt và được nhiều người hưởng ứng. Có cả loại "Trà gạo lứt cỏ ngọt" để dành cho những người đang điều trị tiểu đường hay đang muốn giảm cân. Thành phần: Gạo lứt 80%. Hoa cúc, lá nếp thơm, lá sen, cỏ ngọt: 20% .Công dụng: Thanh lọc gan, giảm các triệu chứng đau đầu, mệt mỏi do rượu bia. Giúp dễ ngủ, cho giấc ngủ ngon và sâu. Hỗ trợ điều trị cao huyết áp, tiểu đường, mỡ máu. Hỗ trợ tiêu hóa.
Theo Đông y, gạo lứt rất bổ và có tính thanh nhiệt, an thần trấn kinh, trừ phiền. Gạo lức có khả năng ngăn sự xuất tiết của dạ dày và đại tràng nên có tác dụng tốt trong điều trị các bệnh đường ruột.

Gạo lứt muối mè (vừng), bao gồm cơm nấu bằng gạo lứt + rang trộn với muối hầm, ăn theo cách số 7 là phương pháp chữa bệnh bằng thực dưỡng Oshawa. Gạo lứt muối mè có thể chữa trị một số chứng bệnh nan y như: ung bướu, viêm đại tràng, tiểu đường, ung thư, thanh lọc gan, táo bón...

An Tâm Foods tổng hợp từ Internet

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Tổng quan về gạo

Tổng quan về gạo

Gạo là một loại cây lương thực chính của các dân tộc Châu Á, gạo có thể làm rất nhiều món. “Có khoảng 2 tỉ người ở châu Á dùng gạo và các chế phẩm từ gạo để bổ sung 60% tới 70% nguồn năng lượng hàng ngày cho cơ thể.” Wikipedia

Gạo tất nhiên được làm từ lúa, đó chính là nhân hạt lúa. Nhờ quá trình xay xát -> bỏ vỏ trấu (thành gạo lứt) -> bỏ vỏ cám (lau bóng hạt gạo) cho ra gạo trắng mọi người hay ăn hàng ngày!

Lúa châu Á, là một trong những loài cây trồng lâu đời nhất và rất đa dạng với hàng ngàn giống được biết đến trên toàn thế giới. Hai phân loài lớn của lúa là japonica và indica đại diện cho hầu hết các giống lúa của thế giới. Trong quá trình trồng trọt con người đã lai tạo ra hàng trăm, hàng ngàn giống lúa, tương ứng với mỗi giống lúa là một đặc điểm gạo khác nhau: hạt to, hạt bé, hạt bầu, hạt dài, loại cứng, loại dẻo, loại đen, loại đỏ, loại trắng, loại tím….nên có nhiều cách phân loại khác nhau tùy vào mỗi vùng, mỗi nhóm canh tác họ đặt tên gọi khác nhau.

Các thành phần chính của gạo!

Sau hi bỏ lớp vỏ trấu chiếm 20% hạt lúa, gạo lứt còn lại lớp vỏ cám chiếm 8-9% và nội nhũ 70% (gạo trắng ta hay ăn) và phôi 1-2% (phần giúp hạt lúa nảy mầm). Như vậy khi xay xát gạo trắng chỉ còn lại phần nội nhũ là chính, tỷ lệ hao hụt khi xay xát khoảng 30%.

Gạo là loại thực phẩm carbohydrate hỗn tạp. Chất tinh bột chứa trong hạt gạo dưới hình thức carbohydrate và trong con người dưới dạng glucogen, gồm loại carbohydrate đơn giản như chất đường glucose, fructuose, lactose và sucrose; và loại carbohydrate hỗn tạp là một chuỗi phân tử glucose nối kết nhau chứa nhiều chất sợi. Tinh bột cung cấp phần lớn năng lượng cho con người. Gạo trắng chứa carbohydrate rất cao, có khoảng 85- 92 gram trong mỗi 100 gram. Do đó, 90% năng lượng gạo cung cấp do carbohydrate . Trong tinh bột có hai thành phần – amylose và amylopectin có ảnh hưởng rất nhiều đến hạt gạo sau khi nấu thành cơm nhưng không ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng. Hạt gạo có nhiều chất amylose sẽ làm cho hạt cơm cứng ngược lại ít amylose, nhiều amylopectin cho cơm dẽo nhiều hơn. Nếp chứa từ 0-10% amylose (10-100% amylopectin là Nếp) là thức ăn chính của người Lào, người Thái ở vùng Đông Bắc Thái Lan và nhiều dân tộc thiểu số ở các vùng núi. Gạo Japonica có từ 14-16% amylose cho cơm dẽo và dính nhau, là thức ăn căn bản của người Nhựt Bổn, Đại Hàn, Bắc Triều Tiên. Gạo thơm thường có 21-23% amylose nên gạo không dẽo lắm mà cũng không cứng lắm sau khi nguội, ngoại trừ gạo Basmati với hạt cơm rời nhau. Các loại gạo thông thường của dân Đông Nam Á có khoảng 21-25% amylose.

Protein: Gạo là loại thức ăn dễ tiêu hóa và cung cấp loại protein tốt cho con người. Chất protein cung cấp các phân tử amino acid để thành lập mô bì, tạo ra enzym, kích thích tố và chất kháng sinh. Chỉ số giá trị sử dụng protein thật sự của gạo là 63, so sánh với 49 cho lúa mì và 36 cho bắp (căn cứ trên protein của trứng là 100).

Vitamin: Cũng giống như các loại ngũ cốc khác, lúa gạo không chứa nhiều các loại vitamin A, C hay D. Nhưng có nhiều vitamin B-1, vitamin B-2, niacin, vitamin E, ít chất sắt và kẽm và nhiều chất khoáng Mg, P, K, Ca.

Thiamin là vitamin B1 giúp tiêu hóa chất đường glucose để cho năng lượng, vì thế hỗ trợ cho các tế bào thần kinh, hoạt động của tim và khẩu vị. Vitamin B1 không thể dự trữ trong cơ thể nên phải cung cấp hàng ngày. Gạo trắng cung cấp 0,07 mg B1/100 gram. Gạo lứt cung cấp 0,26 mg B1/100g, cao hơn 3.7 lần gạo trắng.

Riboflavin: Gạo chứa ít chất riboflavin hay vitamin B2, rất cần thiết cho sản xuất năng lượng và nuôi dưỡng bì mô của mắt và da. Gạo trắng chứa 0,02 mg B2/100 gram. Gạo lứt là 0,04mg (cao hơn gạo trắng 2 lần).

Niacin là yếu tố cần thiết để phân tách chất glucose cho năng lượng và cho da và hoạt động bình thường của hệ thần kinh. Gạo trắng chứa 1,8 mg Niacin/100 gram. Trong khi gạo lứt là 5,5 mg (cao hơn gạo trắng 3 lần).

Vitamin E là một loại sinh tố tan trong mỡ, giúp cho vitamin A và các chất béo chống oxyd hóa trong tế bào và bảo vệ hủy hoại của bì mô của cơ thể.

Ngoài ra, gạo còn cung cấp những chất khoáng cần thiết cho cơ thể với ít chất sắt (thành phần của hồng huyết cầu và enzym) và kẽm (giúp chống oxyd hóa trong máu, thành phần của enzym trong tăng trưởng, phân chia tế bào), nhưng nhiều chất P (giúp xương, răng, biến hóa trong cơ thể), K (cho tổng hợp protein, hoạt động enzym), Ca (giúp xương, răng và điều hòa cơ thể), muối (giữ cân bằng chất lõng trong cơ thể, hoạt động bình thường của hệ thần kinh và bắp thịt)…

Qua các phân tích trên ta thấy gạo lức giữ lại được nhiều vi chất dinh dưỡng rất tốt cho cơ thể và cao gấp 3 -> 3.7 lần gạo trắng. Tuy nhiên hạt lúa khi xay chà thành gạo trắng đã đánh mất nhiều vitamin và các chất vi lượng quan trọng đó. Vì vậy những người ăn gạo trắng thường xuyên sẽ không đủ các vi chất, vitamin, khoáng, cho nhu cầu hàng ngày của con người, nên cần phải cung cấp thêm từ nguồn khác (gây tốn kém thêm về kinh tế).

Nhiều chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo dùng gạo lức để ăn hàng ngày, nhưng rất ít người áp dụng vì chúng ta đã quen ăn gạo trắng từ nhỏ và độ xơ của vỏ lức làm chúng ta không cảm thấy ngon miệng, dễ ăn như gạo trắng.

Hạt gạo lức không thích hợp cho tồn trữ lâu dài và chứa nhiều chất dầu trong cám dễ sinh ra vị hôi, có hại cho sức khoẻ nếu giữ lâu.

Vậy những lý do nào gạo xát trắng lại phổ biến và được ưu chuộng nhất hiện nay? Tờ Hinduism ngày nay đã hỏi Tim O’Donnel, Phó Giám đốc phụ trách bán hàng và tiếp thị ở Nông trại gia đình Lundberg, một công ty của người California chuyên sản xuất gạo. Ông nói nguyên nhân chính là tự bản thân cuộc sống, Gạo trắng giữ được lâu hơn gạo lứt và vì vậy giúp công ty kiếm được nhiều tiền hơn.

Vài thế kỷ qua, người ta trở nên thích độ mềm mịn của gạo trắng cũng như thời gian nấu cơm ngắn hơn. Gạo trắng cũng rẻ hơn, bởi vì những nhà máy sản xuất  được tối ưu hoá để sản xuất ra nó và còn bán được các phụ phẩm: trấu, cám.

Gạo trắng cũng có một khởi đầu khó khăn vào năm 1897, nó cũng được xem như là nguyên nhân gây ra bệnh phù thủng, một căn bệnh chết người tiềm tàng do thiết vitamin B1, vốn đã bị loại ra trong quá trình xử lý. Các công ty đã đối phó lại dưới áp lực của chính phủ, bằng cách bổ sung các chất này vào gạo. Họ đã trộn thêm các vitamin tự nhiên, nhưng không phải là tất cả các loại dưỡng chất cần thiết, bao gồm cả những chất xơ quan trọng. Một mối nguy hiểm khác của gạo trắng là nó có thể gây ra bệnh tiểu đường. Và đối với những người đã mắc bệnh tiểu đường, gạo trắng lại kém an toàn hơn gạo lứt vì nó bẻ gãy glucose nhanh hơn gạo lứt, gây ra phản ứng tiết insulin mạnh mẽ hơn

Một số dân tộc khác như miền Nam Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka, Nigeria, Ghana lại thích dùng loại gạo hấp có nhiều chất bổ dưỡng hơn gạo trắng. Lúa hấp chiếm độ 20% tổng sản lượng thế giới.

Ngoài ra còn một loại gạo rất tốt cho sức khỏe con người hơn cả gạo lứt: đó là gạo mầm. Gạo mầm là gạo lứt được ngâm, ủ cho lên mầm, có thể nấu nhanh, nấu lâu hoặc thậm chí ăn sống. Đối với nhiều người đang ăn kiêng nghiêm ngặt hoặc cần những thực phẩm dễ tiêu mà giàu dinh dưỡng thì nên dùng gạo mầm. Bấm vào đây để tìm hiểu về gạo mầm.

Vì thế các nước dùng lúa gạo hàng ngày mà không bổ túc thêm các loại thức ăn khác thường thiếu vi chất, các loại vitamin thiết yếu nhất là thiếu vitamin A ở phần lớn trẻ con gây ra bệnh mù mắt; thiếu chất sắt gây ra bệnh thiếu máu ở trẻ con từ 5-12 tuổi và phụ nữ trong thời kỳ thai nghén; thiếu chất iod gây bệnh bướu cổ; thiếu một số chất khác như thiamin, riboflavin thường xảy ra ở những vùng ăn gạo trắng hơn là vùng ăn gạo hấp và gây ra bệnh phù thũng, và thiếu chất kẽm. Do đó, trong các chương trình phát triển và an ninh lương thực lúa gạo không thể quên chú ý đến chất lượng của lúa gạo liên hệ đến sức khoẻ con người.

An Tâm Foods tổng hợp từ Internet.

Đọc thêm: Kiến thức về gạo lứt.